Feeds:
Bài viết
Phản hồi

Archive for the ‘06. Tuổi thơ’ Category

Chương VI

 

TUỔI THƠ HAY MẪU GIÁO (3-6 TUỔI)

Từ 3 tuổi đến 6 tuổi là một lứa tuổi sôi động bậc nhất, thường gọi là tuổi thơ đầy là tuổi đi mẫu giáo, với nhiều biến động về mặt vận động, trí khôn, tính tình, quan hệ xã hội. Em bé 3 tuổi đi vững, ra sân ra vườn và ra cả đường phố, đường ngõ; đôi tay cũng khéo léo lên nhiều, dần dần biết cầm dao, cầm kéo, buộc dây. Biết lên bậc, xuống bậc cầu thang, biết đi xe ba bánh, rồi biết đi cầu bập bênh: Phạm vi hoạt động tiếp xúc với đồ vật ngày càng mở rộng, tiến từ những vận động tự phát đến những xây dựng phức tạp. Cũng trong thời gian ba năm ấy, ngôn ngữ phát triển  nhanh chóng; vốn từ lên đến hàng nghìn, bắt đầu nói thành câu, biết kể chuyện và nghe kể chuyện lại. Em bé lớn lên, khôn lên nhiều. Đúng là tuổi học ăn, học nói, học gói, học mở.

Ngây thơ

Tư duy ở lứa tuổi này có nhiều đặc điểm tạo ra một lối suy nghĩ riêng, thường gọi là ngây thơ. Đứng trước một vật, em bé có trực giác toàn bộ rất nhạy, nhanh chóng nhận ra cái gì, ví dụ như chiếc xe đạp của mẹ, mặc dù chiếc xe ấy ở giữa mấy chục chiếc giống nhau. Hỏi vì sao là của mẹ, không nói ra. Nếu là một em 7, 8 tuổi, thì sự nhìn nhận có khi chậm hơn, nhưng khi hỏi đến thì em bé có thể bảo vì cái xe ấy có khung màu xanh, cái yên bọc vải, phanh bênh phải đứt rồi. Em bé 8 tuổi đã phân tích chiếc xe ra từng bộ phận, rồi tổng hợp lại thành chiếc xe của mẹ khác với xe của người khác. Em bé ba tuổi chưa phân tích tổng hợp được, dần dần vừa nhờ hành động vừa nhờ ngôn ngữ, em bé ấy biết phân tích tổng hợp.

Phân tích tổng hợp trước hết là sắp xếp sự vật trong không gian cái nào ở trên, cái nào ở dưới, cái nào bên phải, cái nào bên trái, mỗi sự vật, mỗi chi tiết có một vị trí nhất định, và có những tương quan nhất định với nhau. Biết phân tích tổng hợp tức là biết định hướng trong không gian.

Ngoài ý niệm về không gian và thời gian, cuộc sống xã hội còn đòi hỏi phải biết tính toán, tức vận dụng những con số. Nếu lấy đồng xu xếp thành hai hàng, mỗi hàng đều 6 xu nhưng hàng trên dài hơn, hàng dưới ngắn, hỏi một em bé 4, 5 tuổi, bên nào nhiều hơn, em trả lời là bên hàng dài. Đến 6, 7 tuổi mới trả lời đúng tức đã nhận ra số 6, là độc lập, không dính liền với tính dài ngắn của hàng xu. Con số là một ý niệm trừu tượng, đã tách khỏi đồ vật cụ thể; em bé bước vào tư duy trừu tượng. Sau đó mới hiểu được cần đo lường với những đơn vị quy định như mét, ki lô.

Việc sắp xếp sự việc trong thời gian đi đôi với nhận thức về nguyên nhân và hậu quả. Trẻ em nhỏ chỉ biết tình ý, và cho rằng mọi sự vật là có tình ý: đụng phải góc bàn đau là do cái bàn ác, mưa là do ông trời phun ra mưa, mãi đến 7, 8 tuổi mới nhận ra mỗi sự việc đều có nguyên nhân, không có tình ý của ai mà xuất hiện cả. Lối suy nghĩ này dẫn đến hậu quả là dễ cho rằng, hễ ai có tình ý mãnh liệt là có thể tác động đến sự vật, như nếu bản thân ham muốn một điều gì ghê gớm, tập trung ý nghĩa vào là có thể giải quyết: đó là lối tư duy mà các nhà tâm lý thường gọi là duy ma-thuật (hay phương thuật), tức là nghĩ rằng những ý nghĩ ảnh hưởng trực tiếp đến sự vật cho nên có thể dùng phù phép.

Thực và Hư

Lúc chưa sắp xếp được các suy nghĩ của mình trong không gian và thời gian, chưa phân tích được rõ ràng, chưa có ý niệm về con số, về nguyên nhân sự việc thì việc nhận rõ ranh giới giữa thực và hư, giữa thực tế và cuộc sống, của sự vật bên ngoài và những biểu tượng trong đầu óc, trong suy nghĩ của mình chưa vững chắc. Trẻ em cũng biết thế nào là giả vờ, nhưng chỉ cần một mối cảm xúc mạnh mẽ là ranh giới hư thực bị xóa nhòa, điều gì tưởng tượng ra lúc đầu còn biết là hư, nhưng dần dần hóa ra thực. Một em bé rất dễ đẩy một khúc gỗ mà nghĩ đấy là một chiếc ô tô không có bánh, có tay lái đàng hoàng thì không chịu chơi tượng  trưng như trước nữa. Cũng như nghe kể chuyện lúc say mê thì chuyện thành sự thực, và rất dễ nhập vai vào những  nhân vật trong truyện.

Đối với trẻ em, những câu chuyện thú vật biết nói thần tiên có phép này, phép khác, những mơ ước táo bạo nhất cũng thành hiện thực là chuyện bình thường không có gì kỳ diệu như đối với người lớn. Chuyện cổ tích là một món ăn tinh thần không thể thiếu đối với trẻ em. Bất kỳ một sự vật nào cũng có thể trong một hoàn cảnh nào đó biến thành  một biểu trưng, gây nên những cảm xúc sâu sắc. Kết hợp với lối trực tiếp nhạy bén, đây là tính thơ, tính hồn nhiên nhạy cảm của tuổi này; còn những hạn chế trong suy nghĩ chưa đến được lối tư duy trừu tượng, như đã phân tích ở trên là tính ngây (dại). Tuổi này là tuổi  ngây thơ.

Những tấn kịch tuổi thơ

Nếu trong sự tiếp xúc với sự vật, trẻ em lứa tuổi này dần dần thoát khỏi tính duy kỳ, thì trong quan hệ tình cảm với người khác, với xã hội chung quanh mình cũng qua một quá trình tương tự, để tiến tới nhận rõ vị trí của mình, của bản thân giữa mọi người. Lúc còn bé bỏng được nuông chiều tất cả đều qui về mình, tình cảm mang tính tuyệt đối, đòi gì, muốn được thỏa mãn tức thì, được tất cả,  nghĩ mình là trung tâm của gia đình, của vũ trụ. Đến lúc vỡ ra, nhận ra mình cũng là một thành viên  như mọi thành viên khác của gia đình, phải chia sẻ tình yêu của mẹ, chia sẻ gói kẹo, đồ chơi, muốn được ba mẹ yêu phải hi sinh đòi hỏi này nọ, phải có đi có lại. Sự biến chuyển  trong quan hệ tình cảm với người khác, chuyển từ duy kỷ, mình chỉ biết mình, đến nhận ra quan điểm quyền lợi của người khác, đi song song với sự biến chuyển trong tư duy, từ nhìn nhận chủ quan chỉ biết nhìn nhận sự vật từ chỗ đứng khác nhau, và cũng có đi có lại.

Về tư duy có thoát được cái nhìn duy kỷ, về tình cảm có thoát được đòi hỏi tuyệt đối tất cả về mình, mới xác định được vị trí xã hội của mình, vị trí trong gia đình. Nhận ra mình không phải ngang hàng với ba mẹ, mà hiểu được “phận làm con”, nhận cho được mẹ không phải là của riêng mà còn phải nhường chỗ cho ba cho anh chị. Đối với ba mẹ, tình cảm trải qua một thời kỳ phức tạp, yêu thương vô hạn đan dệt với ghét sợ cũng cũng không kém, vì chính những ngăn cấm trừng phạt đầu tiên là tự ba mẹ. Ở đây thêm một yếu tố giới tính. Đến tuổi này bắt đầu nhận ra m ình là con trai hay con gái, và cũng “thắc mắc” về điểm này. Trong một xã hội còn trọng nam khinh nữ, ba mẹ dù tiến bộ đến đâu vẫn giữ quan niệm “thập nữ viết vô”, thì con trai vẫn cho rằng mình hơn con gái, và đơn giản cho rằng mình có “con chim” là biểu hiện sự hơn hẳn, rồi tự hào về đặc điểm ấy, trong lúc con gái là mặc cảm tự ti. Nhưng lâu lâu người lớn lại đe dọa “hư sẽ bị cắt chim”; chưa phân biệt được đùa và thật, em bé đâm ra sợ hãi. Những câu hỏi về giới tính, về sinh đẻ con gái ở lứa tuổi này là chuyện bình thường, cho đến lúc cũng bình thường tự nhận là con trai hay con gái. Bình thường giữa ba mẹ cũng có sự phân công: ba mẹ thì nghiêm khắc với con trai, nuông chiều con gái, mẹ thì ngược lại, nuông chiều con trai nhưng buộc con gái đi vào nề nếp rất sớm.

Do tình cảm ở lứa tuổi này không còn mang nặng tính duy kỷ, nên giải quyết  những mâu thuẫn ba-con, mẹ-con, trong bộ ba ba-mẹ-con, giữa anh-chị, anh-chị-em, chị-em và cả tập thể ba-mẹ-anh-chị-em, có khi thêm ông bà chú bác, không phải lúc nào cũng êm thấm. Vì em bé khi thì tự kiềm chế được, nhưng nhiều lúc cũng rất “trẻ con”, tức đòi hỏi tuyệt đối và tất cả cho mình. Tuổi này là tuổi sôi động nhất, “thơ” nhất, nhưng cũng nhiều xung đột nhất, mỗi ngày xảy ra nhiều “tấn kịch”.

Cho đến 6, 7 tuổi, tính tình mới ổn định, khi tay chân đã khéo léo vững vàng, định hướng được trong không gian, thời gian, xác định được vị trí xã hội, và có ý thức về bản thân: em bé đã hết ngây thơ, đã bắt đầu khôn lớn.

CHÚ GIẢI BÀI TUỔI THƠ (MẪU GIÁO) (3-6 TUỔI)

1 – Bé lên ba cả nhà học nói. Tuổi từ 3 đến 6 là tuổi sôi động vào bậc nhất, vẫn còn là em bé mà cũng bắt đầu thoát khỏi tuổi bé. Đứng về tâm lý học mà nói, dần dần thoát được cách nghĩ  duy kỷ để dần dần nhìn nhận thực tế, thoát khỏi cảm xúc ái kỷ, chấp nhận trong quan hệ với người khác có đi có lại, có người có ta. Tiến trình này đòi hỏi vượt qua nhiều mâu thuẫn trong tâm tư nhiều mối chằng chịt với nhau dễ gây ra xung đột. Em bé ở tuổi này đòi hỏi ở ba mẹ và giáo viên một sự quan tâm cao độ, đồng thời cũng tạo cho những ai chăm sóc em những niềm vui thú sâu sắc.

2 – Tạm xem việc ăn uống, đại tiện đã giải quyết ổn thỏa vào hai tuổi bế bồng và bé em. Nay đến câu chuyện tiểu tiện, thần kinh thành thục, em bé cảm nhận được khi nào bàng quang đầy nước tiểu, bắt đầu chủ động chỉ đạo cải cổ cơ vành khuyên để hoặc níu giữ nước tiểu lại, hoặc thả cho tè ra. Cũng như trong đại tiện, những cảm giác ấy là sự chủ động tạo ra khoái cảm, và cũng như trong đại tiện, đến tuổi này ba mẹ buộc con đi tiểu có kỷ cương, không được tùy tiện, tùy hứng nữa, không được “đái bậy”. Nếu sự ép buộc của ba mẹ diễn ra dịu dàng, em bé vui vẻ và dễ dàng chấp nhận kỷ luật, nếu ép buộc quá gay gắt nôn nóng, bé sẽ phản ứng cách này, cách khác. Khác với hậu môn cơ vành khuyên ở đây khó chỉ đạo hơn, cho nên một em bé đến sáu tuổi, đôi khi ngủ quên hay mải chơi, hay bị xúc cảm quá mạnh, có thể đái dầm, đó là chuyện bình thường.

Nếu đái dầm kéo dài 6, 7  tuổi là có vấn đề vấp váp tâm lý nào đó. Không mấy khi đái dầm do một bệnh tật thực thể ở đường tiết niệu, đừng vội đưa con đi thử máu, chụp phim, làm khổ con, mà gây ra cho đứa trẻ cũng như người lớn nỗi lo âu không cần thiết. Cần tìm cho ra căn nguyên tâm lý để xử lý.

3 – Vấn đề tâm lý ở đây phức tạp vì:

+  Cơ quan tiểu tiện cũng là cơ quan sinh dục, ở con trai là cái chim (dương vật), ở con gái là âm đạo với âm vật. Lúc nước tiểu kích thích làm dương vật cương lên hay đụng đến âm đạo, tạo ra khoái cảm, em bé tự nhiên quan tâm đến bộ phận ấy, và thường sờ mó mân mê.

+ Bé đâu có nghĩ sự quan tâm và hành động ấy lại đụng đến một cấm kỵ nghiêm ngặt nhất trong xã hội, bị người lớn cấm đoán gay gắt và gọi đó là thủ dâm, chữ dâm mang theo một ý nghĩa bậy bạ, phi đạo đức nghiêm trọng.

+ Em bé bắt đầu cảm nhận sự phân biệt trai gái qua cách đối xử cho ăn, cho mặc của ba mẹ, và nhất là qua việc có chim hay không có. Trong xã hội trọng nam khinh nữ, thì chính người lớn, ba mẹ, ông bà, bà vú nuôi, thường đề cao con chim của con trai và cũng thường đùa đe dọa cắt chim. Đứa con trai thì tự hào, có chim, con gái thì thắc mắc sao mẹ mình không đẻ mình có chim, và nghĩ rằng có khi chim của mình bị cắt lúc nào đó. Rồi các em tò mò tìm hiểu ở ba ở mẹ thì như thế nào, và cũng thắc mắc về quan hệ giữa ba mẹ như thế nào, sinh con sinh cái như thế nào.

+ Tất cả những  thắc mắc trăn trở, mặc cảm này xảy ra vào một thời mà ranh giới giữa hư và thực chưa rõ ràng, cái gì  phản ánh thực tế cũng chưa phân biệt với cái gì tưởng tượng ra. Tất cả những điều này trẻ chưa nhận thức ra được vì những điều trên đều nằm trong vô thức. Chỉ có quan sát theo dõi các trò chơi, hình vẽ, trò chuyện của trẻ em, các nhà tâm lý học mới suy đoán ra được.

4 – Còn nặng tính duy kỷ, thêm vào tự khẳng định mạnh mẽ, tình cảm yêu ghét của trẻ lúc này dễ mang tính tuyệt đối. Yêu gì, yêu ai thì chỉ muốn dành riêng cho mình. Lúc này ba mẹ đẻ ra đứa em thì em bé ganh tị, ghen ghét, đứa em đã chiếm mất sự âu yếm của mẹ, rồi sau này lớn lên, anh em hay chị em quá gần tuổi nhau dễ ganh tị nhau suốt đời, trừ phi ba mẹ biết đối xử làm cho đứa anh hay đứa chị cảm thấy chính vì mình đã lớn lên mà mẹ không chăm sóc âu yếm như là em bé nữa, và phần nào giao cho anh chị trách nhiệm chăm sóc em.

5 – Đối thủ đáng gờm nhất trong việc chia sẻ chiếm đoạt tình yêu của mẹ hay của ba chính ra không phải là em, mà lại là ba hay mẹ. Ở đây có sự khác biệt giữa con trai và con gái, kể ra cũng không có gì đáng ngạc nhiên. Ở tuổi bế bồng, trai gái đều dính lấy mẹ, nhưng càng lớn lên thì quan hệ với ba càng tăng cường và theo qui luật tự nhiên, ba đối xử với con trai khác với con gái cũng như mẹ  về cả hai mặt về lý trí và cảm xúc. Ở tuổi này không thể đòi hỏi trẻ em rạch ròi được trong tình cảm hỗn hợp của mình, những tình cảm hai chiều, vừa yêu kính ba mẹ, vừa ganh tị ghen ghét, một đối thủ chia sẻ chiếm đoạt tình yêu và sự âu yếm của ba hay của mẹ, đối thủ của con trai tất nhiên là ba, đứa con trai không thể chiếm riêng mẹ một mình, còn đối thủ của con gái tất nhiên là mẹ. Mà ba thường cũng nghiêm khắc với con trai hơn, đòi hỏi con trai tỏ ra là một người “đàn ông”, mẹ ngược lại đòi hỏi con gái “công, dung, ngôn, hạnh” khác với con trai. Tình yêu giữa ba mẹ và con cái không đơn giản như ta thường tưởng. Đây là một vấn đề tâm lý phức tạp vào bậc nhất, đã gây ra nhiều tranh luận gay gắt cả trăm năm nay về tính chất của tình yêu này. Ở đây chỉ nêu lên được vấn đề, chưa có thể đi sâu được.

6 – Nếu sống ở nông thôn, trong nhà, ngoài vườn, có nhiều dụng cụ, cây cỏ, thú vật, dù là con một cũng có trẻ con, họ hàng, láng giềng hàng ngày cùng chơi, thì cuộc sống cũng chỉ đủ tạo điều kiện cho em bé trưởng thành lên. Ở thành phố đến tuổi này thì môi trường gia đình đâm ra quá chật hẹp, không thể không gửi con đi mẫu giáo. Trường lớp mẫu giáo nên như thế nào chúng tôi không đi sâu vào vấn đề, chỉ nêu lên một vài nguyên tắc cơ bản.

Trước hết, phương thức giáo dục mẫu giáo không như phổ thông nhằm truyền đạt kiến thức, chưa “học chữ” mà nhằm giúp trẻ trưởng thành qua một bước quyết định, để rồi có khả năng vào trường phổ thông.

Từ ba lên sáu, giúp em bé chuyển từ:

- Giác quan chưa nhạy bén vận động còn vụng về. Giác quan nhạy vận động khéo léo sử dụng được các công cụ thông thường.

- Ngôn ngữ chưa mạch lạc – Ngôn ngữ mạch lạc.

- Nhìn nhận sự vật bằng  trực giác toàn bộ – Biết phân tích tổng hợp sự vật.

- Tư duy hoàn toàn chủ quan do tình cảm và hành động chi phối – Nhìn nhận đặc tính của sự vật khách quan và quan điểm yêu cầu của người khác.

- Chưa phân biệt rõ hư thực – Phân biệt rõ hư thực.

- Tư duy cụ thể trực quan – Tư duy với những phạm trù không gian, thời gian con số trừu tượng.

- Chỉ biết tình ý – Nhận ra nguyên nhân của sự việc.

- Chỉ biết những thuộc tính tuyệt vời – Nhận ra tính cách tương đối.

- Chưa nhận rõ cương vị của mình – Nhận rõ cương vị xã hội.

- Chưa ý thức về suy nghĩ của mình đúng hay sai, hợp lý hay không – Có ý thức về suy nghĩ của mình.

- Chưa ý thức rõ về trách nhiệm của mình – Ý thức được về trách nhiệm của mình.

- Bị tình cảm nhất thời chi phối chưa tự kiềm chế được để đeo đuổi một ý đồ hay phục tùng một qui tắc, một mệnh lệnh – Tự kiềm chế được, thoát khỏi sự chi  phối của tình cảm có thể hy sinh một tình cảm để theo một qui tắc, một mệnh lệnh.

- Có khả năng thích nghi – Tóm lại đủ khôn ra theo kiểu người lớn.

- Sự chuyển biến này không phải thông qua những bài giảng lên lớp mà phải thông qua hoạt động, thông qua việc xây dựng mối quan hệ  tình cảm tốt đẹp giữa giáo viên và bạn bè. Cuối cùng, thoát được cách suy nghĩ duy kỷ và cảm xúc ái kỷ. Em bé ngây thơ nay không còn  ngây dại nữa, nhưng vẫn giữ được tính nhạy cảm của tuổi thơ, mà cô giáo tuy có gian lao nhưng được hưởng niềm vui sâu sắc đã góp phần tạo nên một con người. Không ở một lứa tuổi nào mà “tình nghĩa thầy trò” lại sâu sắc như ở lứa tuổi này.

 

đến chương 7 >>

Read Full Post »

Theo dõi

Get every new post delivered to your Inbox.

Join 43 other followers